Một Quẻ Định Hung

Chương 2



Tôi lập tức ngậm chặt miệng.

Sau đó, người phụ nữ ấy rời đi.

Tối hôm đó, bà ôm tôi ngồi trên giường, hạ giọng hỏi:

“Con nhìn thấy gì?”

“Trên tay cô ấy có đường máu. Không phải máu của người khác.”

Bà nhẹ nhàng vỗ sau đầu tôi.

“Nhớ kỹ, chuyện như thế này không được nói. Một khi nói ra, dính vào rồi sẽ không thể phủi sạch.”

Ba ngày sau, người ta vớt được một chiếc bao tải dệt bằng nhựa dưới sông của thị trấn.

Bên trong là một bé trai năm tuổi.

Người phụ nữ ấy đã treo cổ trong nhà mình.

Người trong thị trấn đều nói cô ta đau khổ vì mất con, nghĩ quẩn nên mới làm vậy.

Chỉ có tôi biết sự thật.

Đó là lần đầu tiên tôi thật sự sợ đôi mắt của chính mình.

Cũng từ sau lần ấy, mỗi khi xem chỉ tay cho người khác, tôi đã biết chuyện gì nên nói, chuyện gì không nên nói.

Bà sống đến năm tôi mười tám tuổi.

Ngày bà ra đi vừa đúng tiết Đại Hàn.

Bà ngồi trong gian chính, tay nắm chặt một nắm tiền đồng, nói với tôi câu cuối cùng:

“Con bé, sau này con phải tự đi một mình. Đừng chạm vào chuyện lớn, đừng dính dáng đến người có quyền thế. Trong mệnh con có một kiếp nạn, vượt qua được là ổn.”

Sau đó, bà nhắm mắt lại, không bao giờ mở ra nữa.

Tôi chôn bà dưới gốc cây hòe già ở phía đông thị trấn.

Không bia, không tên.

Khi còn sống, người trong thị trấn gọi bà là Chu mù. Chết rồi cũng chẳng có ai nhớ bà họ gì.

Nhưng tôi nhớ.

Bà là người thân duy nhất của tôi trên đời này.

Ngày hôm sau khi chôn cất bà, tôi thu dọn ống quẻ và tấm vải xanh của bà rồi lại ra bày sạp.

Địa điểm đã đổi, từ thị trấn chuyển lên huyện.

Tháng Chạp năm 1998, tôi mười tám tuổi, một mình ngồi xổm trên mặt đất tại khu chợ cổng Đông của huyện Nam Hà. Trước mặt trải một tấm vải xanh, trên đó viết bốn chữ:

“Xem chỉ tay, năm tệ.”

02

Huyện thành không giống thị trấn.

Người đến chợ phiên trong thị trấn đều là dân các làng gần đó, chất phác, thật thà và tin vào những chuyện này.

Trong huyện có rất nhiều người khôn lỏi. Người có tiền coi thường sạp bói toán năm tệ bên đường, người không có tiền lại không nỡ bỏ ra.

Ba ngày đầu tiên, tôi không có một vị khách nào.

Khi tôi ngồi xổm tại sạp gặm bánh màn thầu, người chị bán tất bên cạnh liếc tôi:

“Cô bé, tuổi cô mà làm nghề này thì không lừa được người ta đâu. Về nhà tìm việc khác mà làm đi.”

Tôi không để ý đến chị ấy.

Ngày thứ tư, một người đàn ông trung niên tới.

Quần lao động, giày cao su màu vàng, trong kẽ móng tay còn dính dầu máy không thể rửa sạch. Ông ấy là công nhân nhà máy.

Những năm ấy, doanh nghiệp nhà nước cải tổ. Nhà máy phân bón và nhà máy dệt trong huyện lần lượt đóng cửa, người thất nghiệp nhiều từng nhóm từng nhóm.

Ông ấy ngồi xổm trước mặt tôi, do dự hồi lâu rồi vẫn lấy ra năm tệ.

“Xem giúp tôi đi, gần đây vận may của tôi không tốt.”

Tôi cầm lấy tay ông ấy.

Đường chỉ tay thô ráp, những lớp chai chồng lên nhau.

Tôi nhìn rất lâu.

“Không phải vận may của ông không tốt.”

“Vậy là gì?”

“Ông đang do dự về một chuyện.”

Ánh mắt ông ấy khẽ thay đổi.

“Chuyện gì?”

“Ông muốn hợp tác làm ăn với người khác. Đối phương có nguồn hàng, còn ông bỏ công sức.”

Sắc mặt ông ấy thay đổi:

“Sao cô biết?”

Tôi chỉ vào một đường trong lòng bàn tay ông ấy:

“Đây là đường sự nghiệp. Ở giữa xuất hiện nhánh rẽ, chứng tỏ có cơ hội hợp tác. Nhưng ông nhìn chỗ này đi—”

Tôi chỉ vào một vùng đường vân dưới gốc ngón trỏ.

“Vị trí này đại diện cho độ đáng tin của đối tác. Chỗ này của ông hơi tối, chứng tỏ đối phương không hoàn toàn đáng tin.”

Khi rời đi, vẻ mặt người đàn ông ấy rất phức tạp.

Một tuần sau, ông ấy lại tới.

Lần này ông không ngồi xuống, chỉ đứng trước mặt tôi nói:

“Cô bé, cô nói đúng. Người kia ôm tiền bỏ trốn rồi, may mà tôi chưa đầu tư quá nhiều.”

Ông ấy ném mười tệ xuống tấm vải xanh.

“Năm tệ thừa coi như cảm ơn cô.”

Thứ gọi là danh tiếng lan truyền cực kỳ nhanh trong chợ.

Chưa đầy một tháng, trước sạp của tôi đã bắt đầu có người xếp hàng.

Đủ loại người đều tới. Người trung niên thất nghiệp hỏi đường sống, cô gái trẻ hỏi nhân duyên, người làm ăn hỏi tài vận.

Tôi không nói khoác, cũng không giả thần giả quỷ.

Nhìn thấy gì thì nói đó. Chuyện nào nhìn không chuẩn, tôi sẽ nói không chuẩn rồi trả lại tiền.

Đến mùa xuân, tôi đã có chút tiếng tăm tại khu chợ cổng Đông.

Người ta không gọi tên tôi mà gọi tôi là “Thần toán nhỏ”.

Tôi không thích cách gọi này lắm, quá gây chú ý.

Nhưng bà không còn nữa, chẳng có ai chắn giúp tôi.

Tháng Ba, có một người phụ nữ tới.

Cô ta ăn mặc không tệ, tóc uốn, trên mặt có trang điểm, nhưng trong mắt lộ rõ vẻ mệt mỏi.

Khi cô ta ngồi xuống đối diện tôi, tôi ngửi thấy mùi thuốc khử trùng nhàn nhạt.

Là mùi của bệnh viện.

“Giúp tôi xem thử gần đây chồng tôi có người khác không.”

Tôi xem tay cô ta.

Đường vân rất dày, đường tình cảm có nhiều nhánh rẽ, chứng tỏ người này suy nghĩ nặng nề, nhạy cảm và hay lo lắng.

Nhưng vấn đề không nằm ở đây.

Tôi nhìn thấy dưới gốc ngón áp út của cô ta có một vùng vân tối nhỏ. Trong tướng học, thứ này được gọi là “vân khốn”.

Nó thường xuất hiện trên người phải sống lâu dài trong một mối quan hệ áp bức.

“Chồng cô có thói quen đánh người không?”

 

Sắc mặt cô ta trắng bệch.

Tôi biết mình đã nói trúng.

“Nửa năm gần đây, có phải anh ta ra tay ngày càng thường xuyên hơn không?”

Cô ta cắn môi, khẽ gật đầu.

“Cô đến hỏi chồng mình có người khác hay không, thật ra không phải vì muốn xác nhận chuyện đó. Cô chỉ muốn tìm một lý do để rời khỏi anh ta.”

Nước mắt cô ta rơi xuống.

Ngày hôm ấy, tôi không lấy tiền.

Không phải vì tôi có lòng dạ Bồ Tát, mà vì nhìn cô ta khiến tôi nhớ đến mẹ mình.

Hoàn cảnh khác nhau, nhưng cách bị nhốt lại giống nhau.

Mẹ tôi bị nhốt trong hoàn cảnh ấy, không thoát ra được nên đã bán con mình.

Cô ta cũng bị nhốt bên trong, không thể thoát ra. Sớm muộn gì cũng sẽ làm ra chuyện gì đó.

“Cô đi đi.”

Chương trước Chương tiếp
Loading...